Tổng kết thị trường than đá xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong năm 2019

Tổng kết thị trường than đá xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong năm 2019

  • Post category:Tin Tức
  • Post comments:0 Comments
  • Reading time:9 min(s) read

Ngành than đá Việt Nam có những diễn biến gì trong suốt năm qua ?

Than đá đang là một trong ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam từ nhiều năm trở lại đây. Tuy nhiên đây không phải là một ngành công nghiệp dễ dàng mà phải đòi hỏi sự nghiên cứu tỉ mỉ và cẩn thận trong từng bước thực hiện. Chính vì vậy, Việt Nam đã có những bước đầu thành công trong ngành than và cũng có những điều cần lưu ý và rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn.

Tình hình than đá nội địa tại thị trường Việt Nam có những diễn biến gì ?

Sản lượng than đá được khai thác từ Tập đoàn Khoáng sản Việt Nam dự kiến đạt 21.85 triệu tấn, bằng 54 % kế hoạch năm đã được đề ra, tăng 1.42 triệu tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, sản lượng than tiêu thụ tại thị trường Việt Nam đạt 22.82 triệu tấn, cũng bằng 54% kế hoạch đề ra và tăng 4 % so với cùng kỳ năm 2018. Riêng với ngành điện, lượng than mua về đạt 18.47 triệu tấn, tăng hơn 50% so với kế hoạch, tăng 16 % so với cùng kỳ và lượng tăng này tương ứng tăng 2.5 triệu tấn than.

Cũng trong 6 tháng cuối năm, Tập đoàn Khoáng sản Việt Nam đã giao dịch thành công với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khoảng 2.8 triệu tấn than hỗn hợp (than sản xuất trong nước kết hợp với than nhập khẩu), đạt 58% so với kế hoạch đề ra. Để đảm bảo đủ lượng than đá cung cấp cho các hộ điện trong giai đoạn các nhà máy nhiệt điện than cần phát điện tối đa trong các tháng mùa nắng nóng, nhà nước đã tiến hành chỉ đạo các đơn vị tăng cường lượng than cung cấp cho các hộ điện ở mức cao nhất.

Ngoài cung cấp than cho ngành công nghiệp điện, than còn được sử dụng rộng rãi trong các các hoạt động giao thông vận tải tại các cảng để  nâng cao năng lực vận tải, đáp ứng nhu cầu xuất, nhập khẩu than nói riêng và công tác tiêu thụ than nói chung cho thị thường Việt Nam.

Tình hình than đá nhập khẩu tại thị trường Việt Nam có những diễn biến gì ?

Trong năm 2019, sản lượng than đá nhập khẩu được Cục Hải quan thông báo là có xu hướng gia tăng cực mạnh, với mức tăng trưởng xấp xỉ gần 100%. Theo số liệu được thông báo vào năm 2018, Việt Nam nhập khẩu 22.85 triệu tấn than bao gồm nhiều loại than khác nhau với trị giá lên đến hơn 2.5 tỷ USD.  Tuy nhiên con số trên chẳng thấm thía gì so với nửa đầu năm 2019, khi có đến 20 triệu tấn than các loại được nhập khẩu với giá trị đến 2 tỷ USD. Nếu xét duy nhất trong tháng 6/2019, lượng than nhập khẩu vào Việt Nam đã lên đến con số 4 triệu tấn. Nguyên nhân dẫn đến việc nhập khẩu than có xu hướng tăng mạnh trong năm 2019 là giá than đá trên thị trường thế giới đang trong tình trạng giảm mạnh. Dựa vào tạp chí Business Insider, giá than cao nhất từng được ghi nhận là đạt mức 139 USD/tấn vào tháng 1/2011. Còn trong năm 2018, giá than cao nhất đạt 78,5 USD/tấn vào tháng 10 và tháng 11. Tuy nhiên khi sang năm 2019, mức giá đã có dấu hiệu giảm xuống 75.4 USD/tấn vào ngày 2/1/2019 và vẫn đang tiếp tục trên đà giảm. Theo ghi nhận, giá than đá ngày 17/7/2019 chỉ còn chưa đến 54 USD/tấn.

Cùng lúc đó, kể từ cuối năm 2018, giá than trong nước được quy định bán cho các nhà máy điện đã tăng thêm khoảng từ 2.3 đến gần 6%. Cụ thể, than cám 4b bán cho ngành điện tăng từ 1.825 triệu đồng/tấn lên 1.92 triệu đồng/tấn ở loại có chất lượng cao nhất; than cám 5b dao động 1.73 – 1.78 triệu đồng/tấn; than cám 6a dao động 1.34 – 1.45 triệu đồng/tấn và than cám 6b có giá 1.14 – 1.31 triệu đồng/tấn.

Cân bằng than đá trong nước và xuất khẩu sao cho hài hoà nhất

Theo báo cáo về than đá của Bộ Công Thương, kết quả cung và cầu than đá hiện nay cho thấy, giai đoạn từ đây cho đến năm 2030 Việt Nam sẽ dư thừa một lượng lớn than cục cũng như than cám các loại mà hiện nay trong nước vẫn chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hết với khối lượng ước tính khoảng 2.1 triệu tấn/năm.

Để cân bằng lượng than xuất khẩu và lượng than sử dụng trong nước,Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030, xuất khẩu than sẽ có theo xu hướng giảm dần theo thời gian. Hiện nay, xuất khẩu than đã dần đi theo đúng hướng giảm dần và cân đối lại xuất khẩu các nguồn than trong nước không có nhu cầu sử dụng tới.

Hiện nay, một số loại than đá có chất lượng cao để phục vụ cho ngành sản xuất thép như than cám 1, 2, 3 chủ yếu xuất khẩu sang Nhật Bản để phục vụ cho các công ty/ xí nghiệp sản xuất thép lớn tại nước này và cho đến năm 2025 sẽ ký các thỏa thuận nguyên tắc trong việc cung cấp than cho sản xuất thép tại Nhật. Nhờ những nguồn vốn tài chính từ việc xuất khẩu than sang Nhật Bản, nhà nước sẽ có thêm tiềm lực tài chính để phát triển và mở thêm các mỏ mới để tăng gia sản xuất cũng như khai thác than. Từ đó, nguồn than dồi dào nằm sâu trong lòng đất mới có đủ cơ sở vật chất để khai thác. Việt Nam dự kiến sẽ tiếp tục duy trì  sản lượng than xuất khẩu ước tính khoảng 2 triệu tấn/năm. Giá than đá xuất khẩu sẽ cao hơn nhiều so với giá trong nước, cũng chính là nơi sẽ thu về lợi nhuận lớn cho đất nước. Một số ý kiến cho rằng, loại than dùng cho mục đích xuất khẩu không phù hợp cho sản xuất điện cho nên việc xuất khẩu loại than này là hoàn toàn dễ hiểu. Tuy nhiên lại có ý kiến cho rằng xuất khẩu than là một việc hệ trọng cần phải được xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng chứ không phải cứ thừa nguồn than mà không có nhu cầu sử dụng ngay là nghĩ đến việc xuất khẩu. Tuy nhiên nói đi cũng phải nói lại, than đá xuất khẩu là loại than có giá trị kinh tế cao nên nếu xuất khẩu thành công sẽ đem lại nguồn lợi rất lớn cho đất nước.

Trả lời